Một kinh phổ biến:
Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời. Nhân vì sự ấy con lấy lòng trông cậy than van chạy đến sấp mình xuống dưới chân Đức Mẹ, là Nữ Đồng Trinh trên hết các kẻ đồng trinh, xin Đức Mẹ đoái đến con là kẻ tội lỗi. Lạy Mẹ là Mẹ Chúa Cứu Thế xin chớ bỏ lời con kêu xin, một dủ lòng thương mà nhận lời con cùng. Amen.
Người ta không rõ nguồn gốc của bài kinh này. Một giả thuyết phổ biến là do thánh Bênađô, viện phụ dòng Xitô - Tiến Sĩ Hội Thánh, phổ biến vào thế kỷ 12. Nhưng có hai câu chuyện hoán cải gắn liền với bài kinh cổ xưa này.
Câu chuyện đầu tiên là về thánh Phanxicô Salê (1567-1622). Tuy được sinh ra trong một gia đình Công Giáo đạo hạnh, ngài lớn lên trong bầu khí tôn giáo căng thẳng tại Pháp. Bè Tin Lành Calvin ngày một lộng hành, và họ giảng dạy thuyết tiền định kép: rằng Thiên Chúa thông suốt mọi sự, nên Ngài cũng biết được lựa chọn tương lai của mỗi người, và vì thế con người không thể có ý chí tự do. Thiên Chúa đã định từ trước muôn thuở cho một nhóm người được cứu rỗi và nhóm còn lại phải sa hỏa ngục. Ơn cứu độ từ thập giá Chúa Giêsu chỉ dành cho nhóm người được cứu mà thôi, chứ không cho nhóm bị chỉ định phải chịu án phạt.
Tư tưởng bè Calvin nhiễm vào thánh Phanxicô khi ngài đang học Đại Học. Ngài rơi vào trạng thái khủng hoảng cùng cực vì ngài cho rằng mình thuộc nhóm bị định phải sa hỏa ngục. Ngài bỏ ăn, bỏ ngủ, và không còn muốn giao tiếp với ai. Ngài không còn tươi cười như trước, mà người ta chỉ còn thấy ngài khóc lóc kêu la.
Trong cơn túng quẫn, ngài bước vào một nhà thờ và quỳ trước tượng Đức Mẹ. Ngài đọc bài Kinh Hãy Nhớ trong vô thức mà ngài được dạy từ nhỏ. Hồi ký của ngài ghi nhận rằng, “Sau đó, bỗng dưng cơn khủng hoảng chấm dứt ngay lập tức”. Ngài viết rằng Mẹ đã cứu ngài khỏi sa vào lạc giáo. Ngài đọc Kinh Hãy Nhớ mỗi ngày, hăng say rao giảng, và đã đưa được nhiều người trở về Đức Tin chân thật. (Chuyện kể rằng do người Tin Lành bịt tai không nghe ngài rao giảng rồi còn đuổi ngài đi, ngài liền nghĩ ra một cách: ngài in nhiều bài hộ giáo rồi cho “phát tờ rơi” xung quanh những vùng đông người Tin Lành)
Câu chuyện thứ hai là về Marie-Alphonse Ratisbonne (1814-1884). Sinh ra trong một gia đình Do Thái thượng lưu ở Pháp, ông căm ghét đạo Công Giáo. Việc anh trai ông hoán cải sang Công Giáo và trở thành linh mục làm Ratisbonne cùng gia đình càng thêm căm phẫn Hội Thánh. Ông không ngại buông lời thóa mạ Chúa và Đức Mẹ mỗi khi có dịp.
Trong một lần đến thăm một người bạn ở Rôma là bá tước Theodore de Bussieres, ông được bá tước đưa cho tấm Mề Đay Đức Mẹ và một bản Kinh Hãy Nhớ. Biết Ratisbonne là một người chống đạo, bá tước đặt ra một thử thách là ông hãy đeo tấm Mề Đay rồi đọc bản Kinh Hãy Nhớ này. Ông chần chừ, không muốn làm, nhưng vì nể bạn mình nên ông đã “thực hiện” thử thách.
Trong lúc dạo phố, bá tước ghé ngang nhà thờ Sant'Andrea delle Fratte để thu xếp việc tổ chức lễ tang cho một người bạn. Ratisbonne đi theo vào và ngồi chờ bên trong nhà thờ. Ông viết trong hồi ký rằng: bỗng nhiên tôi thấy chỗ bàn thờ Đức Mẹ phát sáng. Tôi tiến lại gần thì thấy một người Phụ Nữ đứng đó. Bà lấy tay ra dấu cho tôi quỳ xuống, một sức mạnh không cưỡng lại đẩy tôi về hướng Bà.
Từ ngày hôm đó, Ratisbonne được ơn hoán cải. Ông về chia sẻ Đức Tin cho gia đình và kết quả là ông bị từ mặt như anh trai của mình. Ông gia nhập Dòng Tên và thụ phong linh mục vào năm 1848. Ông mở trường do trẻ em Do Thái nhưng thiết kế lại mô hình đào tạo theo tinh thần của Kitô giáo, và tích cực hoán cải người Do Thái để họ đón nhận Tin Mừng Đức Kitô.